Vẫn biết anh có thể ra đi bất cứ lúc nào, có thể là một đêm nào đó từ hơn mười năm trước sau cuộc rượu tàn đêm gặp gỡ ở Đồng Xoài, có thể là một ngày nào đó giữa Bích Câu Viên, vậy mà tôi vẫn bàng hoàng khi đọc tin Anh mất.
Anh đi rồi, cầm bằng như cái điệu “về đây nghe em” không còn da diết, cầm bằng như cái cảnh “lùa bò trong sương” không còn lãng đãng giang hồ, cầm bằng như mấy ngàn bài thơ, bài hát phút chốc, trong một khoảnh khắc của cuộc đời, trở thành “vàng bay trong gió”.
Tôi cũng làm thơ (ai mà chả từng làm thơ), làm văn nghệ của một thời tuổi trẻ ngông cuồng, đầy đam mê và hào hiệp. Tôi nhỏ hơn anh rất nhiều, ngày tôi khăn gói giang hồ đi thăm anh ở Bình Phước thì anh cũng đã dự cảm nhiều về cái chết của mình. Anh hiền lắm, người thật “tử tế” nói theo chữ của Sơn (Trịnh Công Sơn), câu duy nhất mà tôi nghe anh nói xấu ai đó là “tay ấy, kiến văn nó thấp”.
Anh thua thiệt nhiều, quá nhiều nên anh nghèo lắm. Đến tuổi về chiều mà một căn nhà đàng hoàng còn không có, anh ở trong một túp lều đúng với nghĩa đen của từ này, cùng người vợ và tám đứa con nheo nhóc, vất vả với đủ thứ nghề để sinh nhai trong cuộc người.
Nhưng anh cũng giàu lắm, giàu bạn bè, giàu thơ, giàu nhạc và giàu tình cảm. Túp lều đêm đó, trên ngọn đồi đầy cỏ tranh, thành một lữ quán sang trọng cho những khách viếng thăm, thết đãi nào rượu, nào thơ, nào nhạc, nào sương, nào gió… và cái tình nghĩa văn chương. Trái tim ốm đau của anh bỗng chốc như được bơm căng đầy máu nóng, như một cánh buồm no gió, tròng trành đưa chúng tôi đi. Một đêm đáng nhớ.
Lúc về, tôi có viết một bài thơ “Đi thăm một nhà thơ”, không cố tình gửi cho anh nhưng không hiểu sao anh lại đọc được, anh vui lắm, anh thuộc lòng bài thơ, gặp ai cũng khoe: “Đàm Hà Phú nó làm thơ tặng mình đây”. Lần cuối cùng tôi gặp anh ở Sài Gòn, anh nhắn: “Quốc Bảo nó đang làm cho mình cái CD, nó ứng cho mình được năm trăm, mình mới Phú đi uống rượu”. Đấy, anh ngủ trên những viên gạch 4 lỗ được xếp trên nền đất thành hình cái giường, nhưng có năm trăm bạc thì anh mời thằng em giang hồ đi uống rượu.
Cuối cùng thì anh cũng đi, tôi cay mắt khi nghĩ về những đứa con của anh, về chị vợ anh, lúc này họ chắc buồn lắm. Tôi nhớ đêm ấy chị đi bán về (hình như bán chuối chiên ở một cổng trường), sau khi cơm nước cho bọn nhỏ, chị cũng ra ngồi trong cuộc rượu, người nhỏ thó, gầy guộc, mái tóc, gương mặt đen đúa, xương xẩu, đôi vai chùng xuống như đang gồng gánh tất cả nỗi vất vả của một kiếp đàn bà. Chị vẫn ngồi bên anh, anh đàn, chị hát, có lúc cả hai cùng hát, mấy bài nhạc sến. Tôi nhớ đôi mắt chị lúc đó, khác với tất cả những gì thuộc về chị, đôi mắt ấy long anh, đôi mắt ấy nhìn anh yêu đương, đôi mắt giai nhân lắm. Tôi thầm cảm ơn số phận đã đưa chị đến cùng anh, theo anh trên những bước chân giang hồ xuôi ngược.
Cuối cùng thì anh cũng dứt áo ra đi, bỏ lại hàng xấp bản thảo: thơ, nhạc, văn…cả ngàn bài. Anh vẫn viết, viết cuồng, viết vội như một thí sinh hết giờ làm bài, anh vội vã đến không kịp đăng báo, không kịp gửi cho bạn bè xem, vì anh biết, anh phải đi, tiếng chuông có thể điểm bất cứ lúc nào, như lúc này đây, ngày mười ba tháng tám sau một cữ cà phê sáng, trên đường lên ngọn đồi quen thuộc…